NĂM 2024: NÔNG NGHIỆP QUẢNG NAM, GIẢI PHÁP TRÁCH NHIỆM VÀ BỀN VỮNG

Năm 2023 được đánh giá là năm thực hiện đổi mới tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Nhờ đó, ngành Nông nghiệp Quảng Nam tiếp tục thể hiện vai trò “trụ đỡ” của kinh tế trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cho dù gặp phải những khó khăn, thách thức đan xen.

 

Description: D:\PHÒNG NGHIỆP VỤ TỔNG HỢP\BAN BIÊN TẬP\NĂM 2024\BT XUÂN 2024\A TICH BTX.png

Giá trị sản xuất NLTS năm 2023 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 15.665 tỷ đồng, trong đó: nông nghiệp tăng 3,9%, đạt 9.343,9 tỷ đồng; lâm nghiệp tăng 5,6%, đạt 1.830 tỷ đồng; thủy sản tăng 1,7%, đạt 4.490,7 tỷ đồng.

Nét nổi bật là năng suất và giá cả các loại nông sản đều tăng hơn so với năm trước. Diện tích, sản lượng cây lâu năm, rau quả có xu hướng tăng, cây dược liệu đạt trên 9.610 ha. Liên kết sản xuất trồng trọt ngày càng bền vững nhất là lĩnh vực liên kết sản xuất lúa giống và lúa chất lượng cao có hơn 4.361 ha; chăn nuôi tập trung tiếp tục phát triển ổn định đem lại hiệu quả và an toàn cho người chăn nuôi..., quy mô trang trại chiếm 22,97%, với 385 trang trại, tăng 08 trang trại so với cùng kỳ năm trước. Sự dịch chuyển dần của thủy sản tổ chức lại sản xuất, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao. Diện tích được cấp chứng chỉ rừng (FSC) đạt 14.143 ha. Thu dịch vụ môi trường rừng tăng, góp phần bảo vệ rừng, tăng thu nhập cho người dân, các đơn vị tham gia bảo vệ rừng. Giá trị xuất khẩu sản phẩm từ gỗ liên tục tăng qua các năm và chỉ trong 8 tháng năm 2023 đạt trên 15.798.376 USD (tương đương 384,5 tỷ VND).

Đó là kết quả thể hiện ở việc kiên trì thực hiện chủ trương, chính sách lớn về cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới; chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 03 năm (2021-2023) đạt 3,07%/năm (theo giá cố định năm 2010). Giá trị sản phẩm trồng cây hàng năm trên 01 ha năm 2023 ước đạt 103,23 triệu đồng (tăng hơn 2 triệu đồng so năm 2022); giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản trên 01 ha ước đạt khoảng 414,08 triệu đồng (tăng hơn 9 triệu đồng so năm 2022). Toàn tỉnh có 351 sản phẩm được công nhận là sản phẩm OCOP. Số lượng xã đạt chuẩn NTM, NTM kiểu mẫu, NTM nâng cao tăng theo kế hoạch đề ra. Có 129 xã/193 xã đạt chuẩn NTM, tỷ lệ 67%, tổng số xã NTM nâng cao 20 xã và 2 xã NTM kiểu mẫu. Đến nay, có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM, tỷ lệ đạt 22,2%. Cuối năm nay, có thêm 80 thôn đạt thôn NTM kiểu mẫu, nâng tổng số thôn lên 294 thôn/948 thôn, đạt tỷ lệ 31%. Bước đầu, đã có nhiều sản phẩm được hình thành và phát triển gắn với các địa điểm du lịch, mang giá trị độc đáo của địa phương, tạo hấp dẫn cho du khách trong nước và quốc tế, với 19 điểm du lịch cộng đồng được đưa vào đón khách tạo nên sự tích hợp đa giá trị ngành nghề ở nông thôn. Sự tăng trưởng của ngành Nông nghiệp trong năm rất đáng ghi nhận, đặc biệt không chỉ thể hiện ở nhiều mặt như sản phẩm OCOP xuất hiện ở nhiều kênh phân phối, tình trạng “được mùa mất giá” không còn... mà bộ mặt nông thôn khang trang hơn. Nhiều mô hình kinh tế mới đã được hình thành, nhất là các mô hình phát triển nông nghiệp gắn với du lịch, mô hình kinh tế tuần hoàn (nuôi bò - nuôi trùn quế - cây ăn quả; nuôi bò bằng phụ phẩm của sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp), chuyển đổi số trong chăn nuôi...

Kết quả đó là sự chung tay, đồng hành cùng nhiều cố gắng của các cấp, ngành, cũng như tinh thần vượt khó của các doanh nghiệp, hiệp hội, hợp tác xã và bà con nông dân.

Năm 2024, phát triển nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm và bền vững, dự báo ngành nông nghiệp vẫn còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ tác động của giá vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi có tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; thời tiết diễn biến bất thường, nắng nóng gay gắt hơn, nguy cơ hạn hán, thiếu nước nặng nề do tác động của El Nino.... Mặc dù vậy, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn vẫn đặt mục tiêu phát triển tốc độ tăng giá trị toàn ngành 3,5%.

Để đạt được những mục tiêu đề ra, toàn ngành Nông nghiệp, nông thôn tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, kinh tế tuần hoàn; chuyển đổi hệ thống nông nghiệp, lương thực thực phẩm theo hướng “minh bạch, trách nhiệm và bền vững” (Quyết định số 300/QĐ-TTg ngày 28/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững ở Việt Nam đến năm 2030).  Thực hiện chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp; từ phát triển đơn ngành sang hợp tác, phát triển đa ngành; thúc đẩy tích hợp đa giá trị trong sản phẩm nông lâm thủy sản;...

- Một là, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng nhóm sản phẩm chủ lực có lợi thế của tỉnh và đáp ứng nhu cầu sản phẩm của xã hội, phục vụ cho xuất khẩu, gắn với nguồn lực xây dựng nông thôn mới; phấn đấu vượt mục tiêu tăng trưởng của năm ở mức cao nhất, trên 3,5%.

- Hai là, xây dựng và tổ chức sản xuất hàng hóa các vùng sản xuất tập trung gắn với tiêu thụ, chế biến; trong đó: cây dược liệu, bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh, Quế Trà My và phát triển một số cây trồng dược liệu mới khác...; cây ăn quả đã có chủ trương như cây măng cụt ở những vùng phù hợp, cây bưởi, cây xoài, chuối, dứa.... gắn với các dự án phát triển vùng nguyên liệu, dự án Khu công nghiệp, nông nghiệp Chu Lai (THACO), trung tâm phát triển công nghiệp chế biến dược liệu ... Xúc tiến, hỗ trợ đầu tư của các doanh nghiệp về xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ.

- Ba là, tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp; các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối hệ thống tiêu thụ, mở rộng việc bán hàng trên  nhiều kênh khác nhau đạt hiệu quả. Mở rộng và phát triển việc liên kết với HTX, doanh nghiệp các sản phẩm chủ lực (lúa giống, gỗ nguyên liệu, cây ăn quả, rau thực phẩm, cây dược liệu, tôm, bò thịt, lợn thịt, yến và khai thác hải sản nghề cá).

Tập trung gắn với việc xây dựng và quản lý cấp mã vùng trồng, vùng nuôi đảm bảo chất lượng nông sản, nhãn hiệu hàng hóa, cùng với chuyển đổi số để tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, hàng hóa trong nước và phục vụ cho xuất khẩu. Tăng nhanh diện tích nâng cấp chứng chỉ FSC.

- Bốn là, đẩy mạnh việc chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, công nghệ sạch vào sản xuất. Sử dụng vật tư đầu vào thân thiện với môi trường (phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học...). Rà soát, ban hành các định mức, hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu thực tiễn; nhất là các định mức, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ. Đảm bảo các điều kiện để các Tổ khuyến nông cộng đồng tham gia vào thực hiện các dự án khuyến nông, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các Tổ khuyến nông cộng đồng. Cùng với việc sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện: (1) Mô hình gắn với chuỗi sản xuất an toàn, vệ sinh thực phẩm; (3) Mô hình ứng dụng nâng cao hiệu quả sử dụng nước tưới, tiết kiệm nước; (4) Mô hình nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng ở nông thôn; (5) Mô hình ứng dụng thử nghiệm mô hình nuôi biển; và việc phát triển nhân rộng các mô hình sinh kế vùng đệm khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi, vọc Chà vá chân xám; sinh kế vùng hồ thủy lợi, thủy điện.

- Năm là, phát triển nông thôn, trọng tâm là thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 gắnvới phát triển kinh tế nông thôn theo hướng đi vào chiều sâu, đảm bảo chất lượng và bền vững. Nâng cao chất lượng tiêu chí xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn; xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ và hiện đại, gắn với quá trình đô thị hóa; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn; đời sống nông thôn giàu bản sắc văn hóa truyền thống; nông thôn trở thành nơi đáng sống.

- Sáu là, phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; bảo vệ và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tăng cường khả năng điều tiết các nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, tích nước cho mùa khô, cấp đủ nước sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Chủ động các phương án ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; đảm bảo an toàn đê điều, hồ đập; xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển. Triển khai hiệu quả các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu đề ra. Nâng cao công tác quản lý tài nguyên rừng, tài nguyên biển, bảo vệ môi trường và giảm thiểu phát thải. Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc các huyện miền núi đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp dân cư, các địa phương (huyện, xã) bám sát cơ sở để hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện, tạo sự đồng thuận trong nhân dân; chủ động bố trí lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án trên địa bàn để thực hiện.

Năm 2024 là năm thể hiện quyết tâm cao, tăng tốc thực hiện Kết luận số 91-KL/TU của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, cùng với đà tăng trưởng của ngành nông nghiệp, hướng đến nông nghiệp “minh bạch, trách nhiệm và bền vững”, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, rất cần có sự nổ lực, phối hợp tốt ở các địa phương, ban ngành, tin rằng nông nghiệp Quảng Nam sẽ tạo thế vững chắc luôn giữ mức độ tăng trưởng cao giai đoạn 2021 - 2025 và những năm tiếp theo./.

Tin liên quan