Tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển ngành tôm năm 2021

Ngày 16/7/2021, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đã chủ trì Hội nghị trực tuyến “Giải pháp phát triển ngành tôm năm 2021 và triển khai Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

Kết luận Hội nghị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người nuôi tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khai thác tốt nhất cơ hội, hạn chế rủi ro, vượt qua thách thức, phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu tôm từ 3,8 đến 4,0 tỷ USD năm 2021, đồng thời để triển khai quyết liệt, hiệu quả Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cụ thể:

- Đối với các đơn vị thuộc Bộ:

          + Tổng cục Thủy sản: Chỉ đạo các địa phương tổ chức triển khai có hiệu quả các quy định của Luật Thủy sản năm 2017 trong sản xuất tôm nước lợ. Tổ chức thực hiện và chỉ đạo các địa phương tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản; tổng hợp và nhân rộng các mô hình nuôi tôm an toàn, thân thiện với môi trường, thúc đẩy chuyển giao công nghệ mới để giảm rủi ro, giảm giá thành sản xuất;

          + Thanh tra Bộ: Chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thủy sản, Cục An ninh kinh tế, các đơn vị liên quan và địa phương tổ chức thanh tra, xử lý nghiêm sai phạm theo quy định của pháp luật (nếu có) về điều kiện sản xuất, lưu thông, chất lượng giống, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, kháng sinh, chất cấm trong nuôi tôm;

          + Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản: Chủ động, thường xuyên đánh giá diễn biến thị trường, đề xuất giải pháp, kịp thời thông tin, tuyên truyền để người dân biết, có kế hoạch sản xuất phù hợp;

          + Cục Thú y: Tổ chức thực hiện và chỉ đạo hệ thống thú y cơ sở tổ chức kiểm dịch và kiểm soát dịch bệnh trên tôm nước lợ để có biện pháp xử lý phù hợp, hạn chế thiệt hại cho người nuôi; thực hiện tốt công tác kiểm dịch; hướng dẫn các địa phương xây dựng, phát triển cơ sở sản xuất giống, cơ sở nuôi tôm an toàn dịch bệnh;

          + Cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và thủy sản: Kiểm soát tốt chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản nguyên liệu; kiểm soát tạp chất, tồn dư hóa chất, kháng sinh trong sản phẩm tôm nhằm nâng cao chất lượng; phối hợp các đơn vị liên quan để truy xuất, đánh giá, có giải pháp để giảm số lượng các lô hàng bị cảnh báo;

          + Vụ Hợp tác quốc tế: Kịp thời thông tin, phối hợp xử lý các rào cản từ thị trường nhập khẩu tôm; phối hợp để chia sẻ thông tin về tình hình sản xuất, sản lượng và các thông tin của thị trường nước cạnh tranh xuất khẩu và thị trường nhập khẩu;

          + Các viện nghiên cứu, trường đại học: Khẩn trương triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ về chọn tạo tôm giống, xây dựng các quy trình công nghệ mới hiệu quả, thân thiện với môi trường để người dân, doanh nghiệp áp dụng.

- Đối với các Hội, Hiệp hội về thủy sản:  Vận động, tuyên truyền các hội viên thực hiện nghiêm các quy định tại Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn; tích cực áp dụng công nghệ mới để giảm giá thành sản xuất; đẩy mạnh liên kết sản xuất, nhân rộng các mô hình, chuỗi sản xuất hiệu quả; giữ vững và phát triển thị trường đầu ra, đấu tranh với các rào cản kỹ thuật.

- Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển:

Bám sát quan điểm, định hướng, mục tiêu của Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất thủy sản tại địa phương theo đúng chủ trương, định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

Thực hiệt tốt kế hoạch sản xuất tôm nước lợ năm 2021; chỉ đạo thực hiệt tốt các quy định về điều kiện nuôi, cấp giấy xác nhận đăng ký nuôi trồng thủy sản cho cơ sở nuôi tôm nước lợ (hiện thực hiện rất chậm) và các quy định khác tại Luật Thủy sản năm 2017 và Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 ;

Thực hiện tốt công tác quan trắc, cảnh báo môi trường để kịp thời khuyến cáo, cảnh báo cho người nuôi; hướng dẫn các biện pháp phòng chống dịch bệnh, thực hiện tốt các giải pháp kỹ thuật để nuôi tôm hiệu quả, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho người nuôi;

Tăng cường thông tin, tuyên truyền, chuyển giao khoa học kỹ thuật để nhân rộng các mô hình nuôi 2, 3 giai đoạn, nuôi sử dụng chế phẩm sinh học, nuôi tuần hoàn khép kín, nuôi tôm an toàn sinh học, nuôi công nghệ cao... và các mô hình liên kết sản xuất hiệu quả giúp người nuôi, doanh nghiệp giảm thiệt hại và chủ động sản xuất;

Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, thanh tra điều kiện cơ sở sản xuất và chất lượng giống, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Kịp thời phát hiện các sản phẩm kém chất lượng, phối hợp với Tổng cục Thủy sản và các địa phương quản lý cơ sở sản xuất sản phẩm vi phạm để xử lý tận gốc;

Thường xuyên báo cáo diễn biến tình hình sản xuất và tiêu thụ thủy sản về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Tổng cục Thủy sản) để phối hợp chỉ đạo sản xuất.

- Đối với các doanh nghiệp, người nuôi tôm:

Khẩn trương thực hiện đăng ký để được cấp mã số xác nhận đăng ký nuôi trồng thủy sản theo quy định tại Điều 36 của Nghị định số 26/2019/NĐ-CP nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường nhập khẩu;

Nâng cao chất lượng sản phẩm, hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi để giảm khâu trung gian, giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm; áp dụng các hình thức nuôi có chứng nhận: VietGAP, GlobalGAP, ASC, … để nâng cao giá trị sản phẩm. Đồng thời, tăng cường xúc tiến thương mại đối với tiêu thụ nội địa và các thị trường mới;

Tuân thủ các quy định về sử dụng chất cấm, thuốc, hóa chất trong nuôi tôm; nâng cao chất lượng sản phẩm; đảm bảo truy xuất nguồn gốc./.

Tin liên quan