Thủ tục hành chính



    

Đăng nhập

 
 

Thông tin hành chính




Chi tiết tin

Cơ chế - Chính sách

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÍCH ƯNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẢNG NAM

Người đăng: Lương Thị Thủy Ngày đăng: 10:35 | 11/12 Lượt xem: 288

Trong những năm gần đây, những hiện tượng về biến đổi khí hậu (BĐKH)  xảy ra ngày càng rõ rệt. Các cơn bão có diễn biến khá bất thường, gia tăng cả về số lượng và cường độ bão, đặc biệt là việc xuất hiện nhiều hơn những cơn “siêu bão”; lượng mưa thay đổi không theo mùa, không theo không gian và gây nên nhiều trận lũ lụt lớn; nắng nóng diễn biến phức tạp và kéo dài, mức nhiệt độ ngày càng tăng,...Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, kinh tế, xã hội và là một thách thức cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của quốc gia và địa phương; trong đó, sản xuất nông nghiệp được coi là một trong những lĩnh vực được đánh giá dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Quảng Nam là tỉnh có 75,79% dân số sống ở nông thôn và 60,59% lao động trong lĩnh vực nông thôn (685.990/889.528 lao động); với 125km chiều dài bờ biển, diện tích đất nông nghiệp là 115.500 ha và 726.500 ha đất lâm nghiệp. Nếu chúng ta không đưa ra những định hướng và có giải pháp  phù hợp để thích ứng cùng với  ứng phó với diễn biến của BĐKH thì nông nghiệp, nông thôn sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.

Từ thực trạng sản xuất của nông nghiệp, định hướng phát triển của Quảng Nam cùng với xu hướng biến đổi khí hậu trong những năm qua và tùy vào từng vùng sinh thái của tỉnh chúng tôi đề xuất một số định hướng và giải pháp cụ thể phù hợp với tiềm năng, tập quán, trình độ sản xuất và tình hình kinh tế, xã hội của mối địa phương. Về định hướng: (1)Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho ngành nông nghiệp và các bên liên quan về ứng phó với BĐKH. Ban hành chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong tình hình BĐKH. Nghiên cứu ứng dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp trong tiến trình BĐKH; lựa chọn giống vật nuôi, thủy sản và cây trồng thích ứng BĐKH kết hợp chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với từng vùng và đạt hiệu quả kinh tế cao. Áp dụng mô hình sản xuất nông, lâm, nghiệp kết hợp bền vững như mô hình vườn đồi vừa đa dạng hóa sản phẩm cho vùng nông thôn, tăng độ che phủ, điều hòa nhiệt độ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường; (2)Rà soát, sửa chữa, quy hoạch và xây dựng mới hệ thống hồ chứa nước; cải thiện, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đường giao thông, thủy lợi phục vụ cho nông nghiệp. Xây dựng chính sách và đầu tư vốn để hỗ trợ phát triển mạnh các mô hình nông nghiệp có quy mô lớn; xây dựng mô hình nông nghiệp sinh thái. Quan trắc diễn biến tài nguyên rừng và môi trường lâm nghiệp trong các hệ sinh thái rừng ở các khu vực nhạy cảm với BĐKH và NBD; tăng cường bảo vệ và phòng chống cháy rừng; (3)Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nông  nghiệp do tác động của BĐKH theo các vùng, năng lực thích ứng với BĐKH ở các vùng sản xuất nông nghiệp; xác định cơ cấu cây trồng nông nghiệp cho sản xuất theo các kịch bản BĐKH ở Quảng Nam; rà soát, quy hoạch sản xuất nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH và nước biển dân (NBD).

Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển, định hướng phát triển vùng này gắn với chiến lược phát triển kinh tế biển, gồm phát triển công nghiệp và du lịch theo hướng du lịch sinh thái, giải trí nghỉ dưỡng; với một số giải pháp cụ thể là: (1)Trồng và khôi phục rừng ngập mặn (rừng dừa nước, đước, mắm), rừng chắn cát, chắn sóng biển (phi lao, dừa…); tích cực hưởng ứng việc công nhận rừng ngập mặn là rừng phòng hộ ven biển để tăng tầm quan trọng của loại rừng này và giúp người dân hiểu rõ vai trò của nó; (2)Hạn chế tối đa và có kiểm soát chặt chẽ nuôi tôm trên cát tự nhiên tại các huyện ven biển, nhất là các huyện Núi Thành, Thăng Bình, áp dụng biện pháp nuôi thân thiện với môi trường; (3)Về biện pháp công trình: nạo vét lòng sông, xây và củng cố đê biển, kè biển, cảng, nhà đa năng, nhà cộng đồng tránh bão, đường tránh lũ,... chú ý đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng phải tính đến tác động của các kịch bản mực NBD, xem xét cốt nền và thiết kế kỹ thuật trước khi khởi công xây dựng; (4)Cải thiện sinh kế cho người dân sống ở các vùng có nguy cơ ảnh hưởng nhiều do thiên tai, BĐKH; nghiên cứu các sinh kế thay thế phù hợp với từng vùng như trồng cây để chắn cát và khai thác sản phẩm từ chúng; phát triển và nghiên cứu hình thức du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng; (5)Đối với các cộng đồng ngư dân đánh bắt thủy sản cần có hệ thống cảnh báo sớm cho người dân để ngư dân yên tâm khai thác ở các ngư trường trên địa bàn tỉnh và giảm tối đa thiệt hại về người và tài sản.

Đối với vùng gò đồi, trung du, cần củng cố và nâng cấp hệ thống cống, trạm bơm điện bảo đảm vững chắc bơm tưới, tiêu phục vụ kịp thời và có hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp. Khảo sát, quy hoạch, xây dựng hồ chứa nước nhằm điều tiết, phân phối và dự trữ lượng nước hợp lý đáp ứng nhu cầu nước cho nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh trước yêu cầu bức thiết của BĐKH. Nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Tuyên truyền phổ biến kiến thức, thông tin tình hình BĐKH và hành động giảm thiểu, thích ứng của ngành nông nghiệp.

Về vùng núi: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là việc làm cấp thiết và ưu tiên hàng đầu đối với các huyện miền núi, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn. Đầu tư và nâng cấp các công trình giao thông cũng như cơ sở hạ tầng khác, đặc biệt là biện pháp công trình chống sạt lở, các công trình đa chức năng vừa phục vụ cho phòng chống thiên tai vừa phục vụ cho sản xuất và đời sống cho đồng bào. Cần phải có quy trình nghiêm ngặt đối với những dự án khai thác khoáng sản (vàng, uranium, titan), vật liệu xây dựng; triệt để nghiêm cấm và xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép. Đối với các thủy điện tại các huyện miền núi cần xem xét lại các dự án kém hiệu quả, gây ngập đất sản xuất, làm thiệt hại lớn đến diện tích rừng đầu nguồn, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Chú trọng công tác định canh, định cư cho người dân ở những khu vực đã lấy đất làm thủy điện và khu vực có nguy cơ sạt lở cao, quan tâm đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng để người dân sinh hoạt, mở rộng đất sản xuất để canh tác; nghiên cứu và hỗ trợ các sinh kế thay thế bền vững cho người dân sống phụ thuộc vào rừng; chủ trương phát triển các vùng nguyên liệu giấy, các vùng cây hương liệu, dược liệu như sâm Ngọc Linh, Ba kích, phát triển dệt thổ cẩm... cần chú trọng đến tính bền vững về sinh kế cho người dân địa phương./.

Duy Nguyên

[Trở về]

Các tin cũ hơn:









Đường dây nóng











Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

Bản quyền thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Quảng Nam.
Trụ sở: 119 - Hùng Vương - Thành Phố Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại : 02353.812078 - Fax : 02353.852629 - Email : phongkythuatso@gmail.com.
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)