Thủ tục hành chính



    

Đăng nhập

 
 

Thông tin hành chính




Chi tiết tin

An toàn thực phẩm

Kết quả mô hình ATTP theo chuỗi và các giải pháp thời gian đến

Ngày đăng: 13:42 | 16/11 Lượt xem: 1085

Quảng Nam hiện nguồn thu nhập chính của nông dân là từ chăn nuôi, nên những năm qua sản xuất, chế biến thịt và sản phẩm từ thịt trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh cả về quy mô sản xuất và sản lượng sản phẩm. Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAHP trong chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, sản phẩm khi đưa ra thị trường tiêu thụ chưa xác định được nguồn gốc xuất xứ, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ATTP cho người tiêu dùng. Toàn tỉnh chỉ có 01 cơ sở được chứng nhận VietGAP trong chăn nuôi gà nhưng không phát huy được hiệu quả và đã hết hiệu lực; 01 cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP) trong chăn nuôi gà; các cơ sở giết mổ, chế biến thịt gia súc, gia cầm còn nhỏ lẻ, gây khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát điều kiện bảo đảm ATTP.


Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc xây dựng
phát triển mô hình chăn nuôi theo quy trình VietGAHP và kiểm soát ATTP theo chuỗi sản phẩm thịt từ sản xuất ban đầu đến tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là rất cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề nhân rộng mô hình trong những năm tiếp theo và hướng tới xây dựng chuỗi sản xuất, kinh doanh đối với nông sản thực phẩm thế mạnh khác của tỉnh. Năm 2016 Sở Nông nghiệp và PTNT đã giao Chi cục Quản lý Chất lượng NLS & TS cùng phối hợp với UBND huyện Thăng Bình và Công ty TNHH Chế biến thực phẩm Quảng Nam tổ chức triển khai xây dựng thí điểm chuỗi sản xuất thịt lợn an toàn từ sản xuất đến điểm bán hàng. Đến nay, đã có sản phẩm thịt lợn được sản xuất theo chuỗi đảm bảo ATTP bán tại Cửa hàng thực phẩm an toàn Quảng Nam - chợ Hà Lam - Thăng Bình vào ngày 09/10/2016. Hiện nay tổng đàn thường xuyên của 17 hộ tham gia mô hình luôn có 87 heo nái, 700 heo thịt; về xuất bán thì mỗi hộ luôn có 3 lứa: lứa 3 tháng tuổi, lứa 2 tháng tuổi và lứa 01 tháng tuổi. Do vậy trong chuồng luôn có heo xuất bán và gối đầu. Bình quân trong 01 tháng, 17 hộ sẽ xuất bán 170 con, khoảng 12.000 kg.

Có được kết quả trên là: 1) Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Nam, Sở Nông nghiệp & PTNT và sự phối hợp của UBND và cơ quan chuyên môn của huyện Thăng Bình nên việc triển khai thực hiện chuỗi thịt lợn an toàn theo đúng kế hoạch để ra và đạt được những kết quả nhất định. 2) Sự phối hợp chặt chẽ giữa Chi cục và huyện Thăng Bình để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. 3) Được sự quan tâm chỉ đạo rất quyết liệt của UBND huyện Thăng Bình đối với các đơn vị liên quan tại địa phương. 4) Có sự đồng thuận cao của Doanh nghiệp, hộ chăn nuôi và chính quyền địa phương sở tại.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện thì Chi cục gặp những khó khăn nhất định: 1) Đa số các hộ chăn nuôi tham gia thí điểm mô hình chuỗi đầu tư chuồng trại chưa kiên cố, trong khi đó phải xác định là nuôi sạch thì mới có sản phẩm sạch. Do vậy, cần phải đầu tư nâng cấp điều kiện cơ sở vật chất ban đầu rất lớn thì mới đáp ứng được điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm. Nhưng kinh phí hỗ trợ  đầu tư cơ sở vật chất cho các hộ tham gia mô hình rất khiêm tốn (2.750.000 đồng/hộ), còn lại chủ hộ phải bỏ ra kinh phí rất lớn để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất. 2) Giải quyết mặt bằng để xây dựng quầy kinh doanh là rất khó khăn vì liên quan đến rất nhiều đơn vị (có được 01 cửa hàng tại chợ Hà Lam Thăng Bình là nhờ sự vào cuộc rất quyết liệt của Chính quyền huyện Thăng Bình trong việc giải quyết mặt bằng và sự quyết tâm đầu tư không tính toán của doanh nghiệp). 3) Kinh phí thuê mặt bằng, chi phí cho nhân viên bán hàng và các khoản chi khác nên rất khó khăn cho Cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn trong giai đoạn đầu. 4) Các hộ chăn nuôi sử dụng con giống của gia đình để nuôi thương phẩm, do đó tỷ lệ nạc, mở các lứa và các hộ nuôi không đồng đều dẫn đến giá thành chênh lệch cao. 5) Tư thương tranh mua, tranh bán, đưa ra giá cao, nhưng không mua nên làm khó cho Doanh nghiệp và các chủ hộ khi tham gia mô hình chăn nuôi yêu cầu mua cao hơn giá thị trường và không phân biệt giá thành dựa trên tỷ lệ nạc/mở của từng hộ.

Để tổ chức triển khai thực hiện các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn trong thời gian tới đạt hiệu quả cao, cần: 1) Nhóm giải pháp về chỉ đạo điều hành: Tăng cường công tác chỉ đạo và kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiện mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh; xác định rõ trách nhiệm quản lý từng công đoạn trong chuỗi của từng ngành, nếu công đoạn thuộc quản lý của ngành nào thì ngành đó chủ trì, phối hợp giải quyết; thường xuyên thông tin, báo cáo khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện để kịp thời tháo gỡ. 2) Nhóm giải pháp về tài chính: Ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước để xây dựng mô hình thí điểm chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy an toàn; huy động nguồn lực (kinh phí) tại các địa phương, các tổ chức, cá nhân tham gia vào chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản toàn. 3) Nhóm giải pháp về tổ chức lại sản xuất: Tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, quy mô tập trung; tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất di chuyển vào vùng quy hoạch để phát triển lâu dài, bền vững và có hàng hóa lớn; khuyến khích, tạo cơ chế hỗ trợ hình hình các tổ chức dịch vụ bao gồm: tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp nông thôn. 4) Nhóm giải pháp về chuyên môn, kỹ thuật: Khảo sát, đánh giá lựa chọn các tác nhân tham gia mô hình thí điểm chuỗi; đánh giá thực trạng, tư vấn nâng cấp về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm các tác nhân tham gia chuỗi; cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm đáp ứng điều kiện đảm bảo ATTP theo quy định; tập huấn phổ biến kiến thức chung về an toàn thực phẩm, các mối nguy gây mất ATTP và các quy định của pháp luật cho cơ sở trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, sơ chế, giết mổ, thu mua, kinh doanh; xây dựng sổ tay chất lượng cho tất cả các công đoạn sản xuất để các cơ sở tham gia chuỗi làm căn cứ áp dụng; tập huấn quy trình sản xuất theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) và đánh giá nội bộ cho các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng tham gia trong chuỗi; tập huấn quy trình sản xuất tốt (GMP), quy trình vệ sinh (SSOP) và hướng dẫn ghi chép biểu mẫu giám sát cho cơ sở sơ chế, giết mổ, thu mua tham gia chuỗi; hướng dẫn tại hiện trường để khắc phục các sai lỗi cho các tác nhân tham gia chuỗi; đánh giá thẩm định điều kiện đảm bảo ATTP các tác nhân tham gia chuỗi; lấy mẫu đất, nước kiểm tra đánh giá, thẩm định điều kiện đảm bảo ATTP các tác nhân tham gia sản xuất ban đầu; lấy mẫu sản phẩm kiểm tra giám sát định kỳ hằng tháng các chỉ tiêu ATTP để xác nhận sản phẩm an toàn; thiết kế và in bao bì, nhãn mác giúp người tiêu dùng nhận diện được sản phẩm kiểm soát ATTP theo chuỗi, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm khi có sự cố về an toàn thực phẩm. 5) Nhóm giải pháp về xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm: Xây dựng liên kết giữa khu vực sản xuất và khu vực phân phối, bán lẻ trong các chuỗi ngành hàng; tạo dựng lòng tin vào hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận nông sản đảm bảo VSATTP; tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành, lĩnh vực sản xuất; tăng vai trò chủ động của hiệp hội doanh nghiệp trong hoạt động đảm bảo VSATTP, xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm, thông tin VSATTP; tổ chức quảng bá, giới thiệu sản phẩm an toàn của chuỗi triển khai của các mô hình (Hội chợ/ Hội nghị quốc tế, trong nước ...).  6) Nhóm giải pháp về công tác phối hợp: Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, ngành và địa phương liên quan trong việc giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc tại một/một số công đoạn tham gia kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi.

Ngoài những nhóm giải pháp nêu trên, cần quan tâm đến các đối tượng: 1) Người sản xuất: Sản xuất hiện nay trên địa bàn tỉnh còng chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán chưa tuân thủ quy trình sản xuất, chưa tạo ra sản phẩm an toàn chất lượng đáp ứng người tiêu dùng. Các hộ sản xuất chưa chú ý tới việc liên kết nhóm hộ mà vẫn sản xuất tự phát mạnh ai người đó làm, nên chưa tạo được vùng sản xuất tập trung, dòng sản phẩm đủ lớn và ổn định. Trong khi đó các doanh nghiệp chế biến tiêu thụ sản phẩm thường ký các hợp đồng với các trang trại lớn, các vùng có lượng sản phẩm lớn và ổn định. Đặc biệt tình trạng người sản xuất thường phá vỡ liên kết khi giá sản phẩm gia tăng đột biến, tự ý bán phá giá cho các thương lái khác khi giá bán cao hơn … Điều này dẫn đến hậu quả tình trạng “Được mùa mất giá, ít thiếu nhiều thừa”, hiệu quả kinh tế không cao, chưa tạo được tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân là do nhận thức của người dân nhiều nơi còn thấp, thiếu thông tin thị trường, một số bộ phận còn chạy theo lợi ích trước mắt. 2) Doanh nghiệp làm trung gian phân phối: Đầu tư sản xuất nông nghiệp thường hiệu quả không cao, tính rủi ro lớn, bên cạnh đó là chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp có, nhưng chưa cụ thể nên phần lớn các doanh nghiệp lớn chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Việc liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất chưa bền vững do chưa có cơ chế chia sẻ lợi nhuận, rủi ro, chủ yếu vẫn liên kết theo hình thức thương thảo thuận mua vừa bán. Tình trạng tiêu thụ sản phẩm vẫn còn qua nhiều khâu trung gian phân phối nên giá bán thực tế cao hơn nhiều so với giá thu mua tại cơ sở sản xuất, sức cạnh tranh chưa cao, chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Công tác tuyên truyền quảng bá Marketting giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn yếu. 3) Kênh bán lẻ: Đối với kênh bán lẻ, hiện trạng hiện nay vẫn còn gian lận thương mại, việc trà trộn sản phẩm chưa rõ nguồn gốc tiêu thụ để cung cấp cho người tiêu dùng. Việc giới thiệu quảng bá sản phẩm, tư vấn chăm sóc khách hàng chưa được quan tâm. Bên cạnh đó chưa có sự phản hồi thông tin hai chiều giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua kênh bán lẻ để từ đó tạo ra sản phẩm đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Mà nguyên nhân là do một số cửa hàng bán lẻ chạy theo lợi nhuận và nhân viên bán hàng thiếu kỹ năng  tiếp thị, tư vấn khách hàng. Hậu quả gây mất lòng tin đối với sản phẩm mà các kênh phân phối đem lại cho họ. 4) Người tiêu dùng: Cơ bản người tiêu dùng hiện nay thiếu thông tin về sản phẩm, chưa biết cách nhận diện sản phẩm an toàn chất lượng cao, chưa nắm được địa chỉ cơ sở sản xuất uy tín, bên cạnh đó một bộ phận người tiêu dùng thích các sản phẩm giá rẻ. Nguyên nhân là do công tác thông tin truyền thông  định hướng sản phẩm theo khách hàng của doanh nghiệp còn hạn chế. Hậu quả người tiêu dùng phải sử dụng hàng hóa kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe và mất lòng tin với người sản xuất. 

Tác giả: Phan Quang Dũng - Chi cục QLCL NLSVTS

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:



Đường dây nóng









Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

Bản quyền thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Quảng Nam.
Trụ sở: 119 - Hùng Vương - Thành Phố Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại : 02353.812078 - Fax : 02353.852629 - Email : phongkythuatso@gmail.com.
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)